U lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa tại thận hai bên, não, xương được chẩn đoán và điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai
GS. TS. Mai Trọng Khoa, PGS. TS. Phạm Cẩm Phương, PGS. TS. Phạm Văn Thái, ThS. BS. Nguyễn Xuân Thanh,
BSNT. Hoàng Đăng Huy, BSNT. Nguyễn Xuân An
Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu – Bệnh viện Bạch Mai
U lympho không Hodgkin (Non-Hodgkin lymphoma, NHL) là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp của hệ lympho, bao gồm một nhóm không đồng nhất các khối u xuất phát từ tế bào lympho B, T hoặc NK. Theo GLOBOCAN 2022, trên toàn thế giới ghi nhận khoảng 553.389 ca mắc mới và 250.679 ca tử vong do u lympho không Hodgkin, xếp thứ 10 về tỷ lệ mắc mới và thứ 11 về tử vong trong các loại ung thư. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, phổ biến từ 45-55 tuổi; trung bình 52 tuổi. Bệnh hiếm gặp ở trẻ em, nam có tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn nữ.
Trên lâm sàng, bệnh nhân thường đến khám vì hạch ngoại vi to, sốt kéo dài, sút cân, vã mồ hôi đêm hoặc các biểu hiện ngoài hạch tại đường tiêu hóa, trung thất, da, hệ thần kinh trung ương hoặc tủy xương. Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào mô bệnh học và hóa mô miễn dịch, kết hợp với chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm đánh giá giai đoạn bệnh. Do tính chất không đồng nhất về sinh học và biểu hiện lâm sàng, u lympho không Hodgkin vẫn là một thách thức quan trọng trong chẩn đoán hiện nay.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu ca lâm sàng Ung thư lympho khó chẩn đoán được chẩn đoán và điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu bệnh viện Bạch Mai
Bệnh nhân: Đinh T T 52 tuổi, Địa chỉ : Thanh Hóa
Ngày vào viện: 10/01/2026.
Lý do vào viện: đau đầu, buồn nôn.
Bệnh sử: Khoảng 3 ngày trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, nôn, tiểu nhiều, không sốt, không khó thở, vào viện tuyến dưới chụp MRI sọ não phát hiện tổn thương não theo dõi u thứ phát. Bệnh nhân được chuyển đến Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai khám và điều trị.
Khám lâm sàng:
Bệnh nhân tỉnh, Glasgow: 15 điểm
Da niêm mạc hồng
Không sốt, Không phù
Đau đầu âm ỉ VAS 3/10 điểm
Hoa mắt, chóng mặt, Không nôn
Yếu 2 tay sức cơ 4/5, run tay
Ăn kém, Uống nhiều, Tiểu nhiều 5-6 lít/ngày
Tim nhịp đều T1,T2 rõ
Phổi không có rale
Bụng mềm, không chướng
Cận lâm sàng:
- Xét nghiệm máu:
- Công thức máu: Hồng cầu 4.92 T/L; Huyết sắc tố 139 G/L; Tiểu cầu 350 G/L; Bạch cầu 11.41 G/L (bạch cầu tăng nhẹ)
- Sinh hóa máu: Ure 6.0 mmol/L ,Creatinine 121 µmol/L, AST/ALT 42/19 U/L (chức năng gan thận trong giới hạn bình thường)
- Chẩn đoán hình ảnh:

Hình 1: Tổn thương tăng kích thước, ngấm thuốc mạnh vùng tuyến yên và hạ đồi (mũi tên màu đỏ)

Hình 2: Tổn thương xương trán và xương chẩm phải, phần nhỏ xương thái dương trái, chưa loại trừ thứ phát (mũi tên màu đỏ)

Hình 3: Tổn thương xương sọ vùng chẩm phải, than xương đùi trái – chưa loại trừ tổn thương thứ phát (mũi tên đỏ)
- Cắt lớp vi tính ổ bụng có tiêm thuốc cản quang

Hình 4: Các ổ ngấm thuốc kém nhu mô thận hai bên 29x22mm và 27x22mm – Nghĩ nhiều đến tổn thương thứ phát
- Cắt lớp vi tính ngực có tiêm thuốc cản quang.

Hình 5: Vài nốt bán đặc nhu mô thùy trên phổi phải, kích thước ~ 5mm.
- Nội soi dạ dày: Viêm dạ dày
- Nội soi đại trạng: Trĩ nội độ 2
- Siêu âm vú: :Hình ảnh nang hỗn hợp tuyến vú phải (BIRADS 3). Nang tuyến vú hai bên (BIRADS 2).
- Siêu âm tuyến giáp: Hình ảnh đám giảm âm thùy trái tuyến giáp theo dõi viêm. Nhân hai thùy tuyến giáp (TIRADS 3). Nang thùy phải tuyến giáp (TIRADS 2).
- Tế bào học nhân tuyến giáp: Bướu giáp keo lành tính.
- Tế bào học nhân vú phải: Không thấy tế bào ác tính.
- Chất chỉ điểm khối u: CEA 1.18 ng/mL; CA 19.9 8.4 U/ml; CA 15-3 21.6 U/mL; CA 12-5 20.2 U/mL; CA 72-4 20.2 U/mL; Cyfra 21-1 2.63 ng/mL; SCC 0.77 ng/mL ( Trong giới hạn bình thường)
Đối với trường hợp tổn thương não theo dõi thứ phát thường nghĩ nhiều đến nguồn gốc từ ung thư phổi, ung thư vú,… . Tuy nhiên các kết quả cắt lớp vi tính, nội soi và mô bệnh học chưa rõ ràng. Do đó, các bác sĩ chuyên khoa ung bướu đã hội chẩn đa chuyên khoa để xác định chẩn đoán.
Sau đó, bệnh nhân được sinh thiết u thận làm mô bệnh học chẩn đoán
- Mô bệnh học u thận: Các tế bào u nhân lớn, kiềm tính, bào tương hẹp sắp, xếp rời rạc, lan tỏa xen lẫn xen lẫn lympho bào nhỏ.
- Mô bệnh học và hóa mô miễn dịch u thận: Hình ảnh mô bệnh học và hóa mô miễn dịch phù hợp với u lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa, LCA+, CD20+, Ki-67+(90%), Bcl6+, Bcl2-, CD10-, Mum-1-, CD3-, CD5-, CK-.
- Xét nghiệm: LDH 302 U/L (tăng); Beta 2 microglobulin: 1.751 mg/L (tăng)
Chẩn đoán xác định: U lympho không Hodgkin tế bào B lớn lan tỏa tại thận hai bên, não, xương giai đoạn IVEA
- Hướng điều trị: Phác đồ RCHOP
- Cyclophosphamide 750mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1
- Doxorubicin 50 mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1
- Vincristin 1,4 mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1
- Prednisolon 100mg uống ngày 1-5
- Rituximab 375mg/m2 da truyền tĩnh mạch ngày 1
Chu kỳ mỗi 3 tuần, sau đó đánh giá lại.
Trong thời gian tới, bệnh nhân vẫn tiếp tục được điều trị, theo dõi đánh giá đáp ứng, phát hiện sớm các thay đổi bất thường để có kế hoạch điều trị kịp thời.
Bàn luận:
Thông thường, u lympho không Hodgkin hay biểu hiện bằng hạch ngoại vi to không đau, kèm theo các triệu chứng toàn thân như sốt kéo dài, sút cân, vã mồ hôi đêm. Tuy nhiên, khi bệnh khởi phát ngoài hạch, biểu hiện lâm sàng thường không đặc hiệu và dễ gây khó khăn trong chẩn đoán.
Ở trường hợp này, bệnh nhân vào viện chủ yếu vì đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, trong khi hình ảnh học lại ghi nhận tổn thương ở tuyến yên – hạ đồi, xương sọ, xương đùi và thận hai bên. Đây là một bệnh cảnh hiếm gặp và dễ nhầm lẫn với ung thư di căn nguồn gốc từ phổi, thận, vú,... Bên cạnh đó, biểu hiện đa niệu, uống nhiều còn có thể làm nghĩ đến bệnh lý nội tiết hoặc tổn thương vùng dưới đồi – tuyến yên, hơn là một bệnh lý lympho ác tính.
Ở những trường hợp có tổn thương tại nhiều vị trí nhưng không xác định được u nguyên phát rõ ràng, bệnh lý lympho ác tính cần luôn được đặt ra trong chẩn đoán phân biệt, cần hội chẩn đa chuyên khoa. Sinh thiết tổn thương kết hợp hóa mô miễn dịch giữ vai trò quyết định trong chẩn đoán xác định, phân loại bệnh và lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp. Ca bệnh này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tiếp cận đa chuyên khoa và chẩn đoán mô bệnh học chính xác trong thực hành ung thư học hiện nay.